Thu ngân sách sẽ giảm khi TPP có hiệu lực?

08:42' 10/11/2015 (GMT+7)
|

(VnMedia) - Theo ông Vũ Như Thăng - Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế - Bộ Tài chính, quy mô thu ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu vẫn duy trì ổn định trong thời gian ngắn hạn, nhưng áp lực giảm thu sẽ đến vào năm 2018, khi Hiệp định Đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) có hiệu lực.

Trả lời câu hỏi của báo chí về nguồn thu ngân sách khi thực hiện các Hiệp định thương mại tự do (FTA) và sắp tới là Hiệp định TPP, ông Vũ Như Thăng - Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế - Bộ Tài chính cho biết, trong quá trình triển khai đàm phán TPP, Bộ Tài chính đã có đánh giá tác động từ Hiệp định đến thu chi ngân sách. Theo đó, việc thực hiện các FTA có thể giảm thu ở thị trường này, nhưng lại tăng thu ở thị trường khác.

Cũng theo ông Thăng, do thực hiện theo các cam kết theo trong ASEAN, WTO và các Hiệp định thương mại tự do khác, số thu ngân sách năm 2008 - 2010 liên quan đến thuế xuất khẩu và nhập khẩu đang có xu hướng giảm.

"Theo đánh giá, quy mô thu ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu vẫn duy trì ổn định trong thời gian ngắn hạn, nhưng áp lực giảm thu sẽ đến vào năm 2018, khi Hiệp định Đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) có hiệu lực”, ông Thăng cho biết.

Quy mô thu ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu vẫn duy trì ổn định trong thời gian ngắn hạn
Quy mô thu ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu vẫn duy trì ổn định trong thời gian ngắn hạn

Lãnh đạo Bộ Tài chính cũng cho rằng, tuy thuế nhập khẩu các mặt hàng giảm, nhưng các loại thuế như giá trị gia tăng, tiêu thụ đặc biệt, môi trường… sẽ được điều chỉnh tăng trong giới hạn cho phép. Điều này không chỉ bù đắp cho phần hụt thu từ giảm thuế nhập khẩu, mà còn góp phần tăng thu cho ngân sách theo hướng bền vững hơn.

Theo báo cáo của Vụ Hợp tác Quốc tế, Hiệp định TPP bao gồm 12 thành viên, TPP trở thành Khu vực mậu dịch tự do (FTA) lớn nhất thế giới, chiếm khoảng 40% tổng GDP toàn cầu và khoảng 1/3 tổng kim ngạch thương mại thế giới

Trong Hiệp định này, các nước cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu dành cho hàng hóa của Việt Nam ngay khi Hiệp định có hiệu lực khoảng từ 78-95% số dòng thuế và xóa bỏ hoàn toàn từ 97 - 100% dòng thuế. Các mặt hàng còn lại sẽ có lộ trình xóa bỏ thuế trong vòng 5 - 10 năm, trừ một số mặt hàng nhạy cảm có lộ trình trên 10 năm hoặc áp dụng biện pháp hạn ngạch thuế quan. Nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vào thị trường TPP được hưởng thuế suất 0% ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực, hoặc sau 3 - 5 năm như nông sản, thủy sản, một số mặt hàng dệt may, giày dép, đồ gỗ, hàng điện, điện tử, cao su…

Riêng đối với thuế nhập khẩu của Việt Nam dành cho các nước, Việt Nam cũng cam kết xóa bỏ gần 100% số dòng thuế trong Hiệp định TPP. Theo đó, 65,8% số dòng thuế có thuế suất 0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực; 86,5% số dòng thuế có thuế suất 0% vào năm thứ 4 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực; 97,8% số dòng thuế có thuế suất 0% vào năm thứ 11 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực; Các mặt hàng còn lại cam kết xoá bỏ thuế nhập khẩu với lộ trình xóa bỏ thuế tối đa vào năm thứ 16 hoặc theo hạn ngạch thuế quan đối với một số nhóm mặt hàng cụ thể như: Ô tô, sắt thép, xăng dầu; nhựa và sản phẩm nhựa, hóa chất, giấy, đồ gỗ, máy móc thiết bị; hàng dệt may, giày dép, rượu bia, thịt, gạo, ngô, sữa và các sản phẩm sữa, thực phẩm chế biến từ thịt, thuốc lá, phân bón…

Việt Nam cũng cam kết xóa bỏ thuế xuất khẩu đối với phần lớn các mặt hàng hiện đang áp dụng thuế xuất khẩu, cơ bản theo lộ trình từ 5-15 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực. Một số nhóm mặt hàng quan trọng như than đá, dầu mỏ và một số loại quặng, khoáng sản (70 mặt hàng) được tiếp tục duy trì thuế xuất khẩu.

Đặc biệt, TPP là một Hiệp định theo mô hình FTA thế hệ mới không chỉ tập trung vào tự do hóa đối với lĩnh vực thương mại hàng hóa mà còn mở rộng đối với lĩnh vực dịch vụ và đầu tư, trong đó có các ngành dịch vụ tài chính. Các nước TPP phải cam kết tuân thủ  các nghĩa vụ mở cửa thị trường dịch vụ theo cách tiếp cận chọn bỏ, ngoại trừ những lĩnh vực được đưa vào danh mục bảo lưu có chọn lọc.

Trong khi đó, các cam kết về dịch vụ tài chính của Hiệp định TPP tạo ra 3 thành tố cơ bản hướng tới đẩy mạnh sự phát triển của thị trường dịch vụ tài chính ở Việt Nam gồm: Mở rộng cam kết về mở cửa thị trường đi kèm với cơ chế minh bạch hóa tạo cơ hội tiếp cận thị trường tốt hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài; Áp dụng cơ chế bảo hộ đầu tư nhằm đảm bảo đầy đủ lợi ích của các nhà đầu tư; Đảm bảo không gian chính sách để thực hiện các biện pháp quản lý thận trọng nhằm xây dựng một nền tài chính vĩ mô ổn định về mở rộng cam kết về mở cửa thị trường đi kèm với cơ chế minh bạch hóa, về cơ chế bảo hộ nhà đầu tư nước ngoài, về việc đảm bảo không gian chính sách để thực hiện các biện pháp quản lý thận trọng cho các nước.