Hầu hết các doanh nghiệp nhà nước hoạt động có lãi

07:04' 28/05/2018 (GMT+7)
|

(VnMedia) - “Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước xét trên tiêu chí lợi nhuận tạo ra, nộp ngân sách nhà nước có chiều hướng tích cực. Hầu hết các doanh nghiệp đều có lãi và số lãi tăng” là nhận xét của Đoàn Giám sát Quốc hội…

Hôm nay (28/5), Quốc hội sẽ thảo luận tại Hội trường về việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (DNNN) giai đoạn 2011-2016.

doanh nghiệp nhà nước làm ăn có lãi
Ảnh minh họa

Bảo toàn và tăng trưởng vốn đạt kết quả đáng khích lệ

Theo báo cáo của Đoàn Giám sát Quốc hội về kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp và cổ phần hóa DNNN giai đoạn 2011-2016, đến hết năm 2016, cả nước còn 583 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Mặc dù gặp nhiều khó khăn và bị tác động mạnh do biến động lớn về tình hình thị trường, giá cả, về rủi ro tài chính khi xảy ra khủng hoảng tài chính giai đoạn 2008 - 2012, đặc biệt là xu hướng giảm khá mạnh của ngành khai khoáng vốn là ngành kinh tế mũi nhọn, chiếm tỷ trọng GDP lớn, nhưng hoạt động của các DNNN vẫn đạt được một số kết quả tích cực.

Báo cáo giám sát nhận định, DNNN vẫn là lực lượng vật chất có tiềm lực mạnh về tài chính, nắm giữ tài nguyên, đất đai, thương hiệu, lực lượng lao động, có đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật, quản lý hùng hậu. Những doanh nghiệp 100% vốn nhà nước được duy trì phát triển là những doanh nghiệp có quy mô lớn, tính chất chuyên môn cao, hoạt động trong những lĩnh vực mà xã hội có nhu cầu lớn để thực sự là lực lượng chủ đạo thực hiện những cân đối lớn trong nền kinh tế, thực hiện được các mục tiêu chính trị - xã hội của Đảng, Nhà nước.

DNNN cơ bản thực hiện được vai trò là lực lượng vật chất quan trọng của nền kinh tế, góp phần điều tiết, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. DNNN chuyển dịch theo hướng chỉ tập trung vào những ngành nghề then chốt của nền kinh tế hoặc những lĩnh vực mà doanh nghiệp tư nhân không đầu tư.

Theo đó, việc bảo toàn và tăng trưởng vốn đạt kết quả đáng khích lệ. Đến hết năm 2016, sau 5 năm, tổng tài sản của các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước tăng 45,8%; vốn chủ sở hữu tăng 92,2%.

Nếu như năm 2010 gần 1.500 DNNN đầu tư dàn trải ở nhiều ngành, lĩnh vực thì năm 2016 chỉ còn 652 doanh nghiệp chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực then chốt, đảm bảo cân đối vĩ mô cho nền kinh tế, công ích, an ninh, quốc phòng.

Hiệu quả kinh doanh của DNNN xét trên tiêu chí lợi nhuận tạo ra, nộp ngân sách nhà nước có chiều hướng tích cực. Hầu hết các doanh nghiệp đều có lãi và số lãi tăng.

Việc đầu tư ra nước ngoài được triển khai khá tích cực. Đến 31/12/2016 có 18 Tập đoàn, Tổng Công ty 100% vốn nhà nước có dự án đầu tư ra nước ngoài, thực hiện đầu tư 110 dự án, với tổng vốn đầu tư đăng ký là 12,608 tỷ USD , chủ yếu tập trung trong lĩnh vực viễn thông , thăm dò và khai thác dầu khí, trồng cây cao su, khai thác khoáng sản…

Việc quản lý, sử dụng tài sản tại nhiều doanh nghiệp về cơ bản được thực hiện theo đúng quy định pháp luật.

Chất lượng tài sản của doanh nghiệp từng bước được nâng cao. Nhiều doanh nghiệp chú trọng nâng cấp, đổi mới ứng dụng và làm chủ công nghệ, trang thiết bị đã tạo điều kiện tăng năng suất, chất lượng, tiết kiệm vật liệu, bảo đảm chất lượng sản phẩm và hiệu quả đầu tư cao nhất, góp phần không nhỏ vào kết quả SXKD của doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực cơ khí, công nghiệp quốc phòng, viễn thông.

Ngoài nhiệm vụ bảo toàn và phát triển vốn nhà nước trong SXKD, các DNNN còn thực hiện nhiệm vụ chính trị xã hội theo chỉ đạo của cơ quan đại diện chủ sở hữu như tham gia bình ổn giá cả các mặt hàng thiết yếu, cung cấp nước sạch đô thị, duy trì an ninh, trật tự xã hội, xây dựng nhà ở cho người có thu nhập thấp.

DNNN (trừ một số tập đoàn, tổng công ty làm ăn thua lỗ) vẫn là nơi tiền lương, thu nhập  và quyền lợi của người lao động, phúc lợi xã hội được ổn định, bảo đảm, nhất là trong giai đoạn khủng hoảng.

Việc thực hiện thoái vốn nhà nước, thu hồi vốn nhà nước cũng được đánh giá là đã đạt được một số kết quả nhất định. Những doanh nghiệp có quy mô nhỏ, hoạt động trong những lĩnh vực Nhà nước không cần nắm giữ đã tích cực được chuyển đổi, sắp xếp sở hữu theo hướng cổ phần hóa.

Việc thực hiện kế hoạch thoái vốn nhà nước tại các công ty cổ phần có vốn nhà nước do các Bộ, ngành, địa phương làm đại diện chủ sở hữu cơ bản được thực hiện theo kế hoạch được phê duyệt và các chế độ chính sách hiện hành.

Kết quả hoạt động SXKD của các doanh nghiệp có vốn nhà nước có xu hướng tăng trưởng ổn định và phát triển.

Tổng tài sản của các công ty cổ phần, công ty TNHH 2 thành viên trở lên có cổ phần, vốn góp của Nhà nước năm 2016 là 495.126 tỷ đồng, tăng 3,8 lần so với năm 2011; tổng vốn chủ sở hữu là 167.701 tỷ đồng, tăng xấp xỉ 3 lần so với năm 2011; tổng doanh thu đạt 423.250 tỷ đồng, tăng 1,7 lần so với năm 2011. Tốc độ tăng trưởng doanh thu bình quân cả giai đoạn 2011-2016 đạt 13%; tổng lợi nhuận trước thuế là 31.723 tỷ đồng, tăng 4,3 lần so với năm 2011; tỷ suất lợi nhuận trước thuế/vốn chủ sở hữu bình quân năm 2016 đạt 19% và bình quân cả giai đoạn 2011-2016 đạt 15%; tỷ suất lợi nhuận trước thuế/tổng tài sản bình quân năm 2016 đạt 6% và bình quân cả giai đoạn 2011-2016 đạt 5%...

Các chế độ tiền lương, thù lao, tiền thưởng, phụ cấp trách nhiệm và quyền lợi khác đối với người lao động, người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp được thực hiện đầy đủ, đúng chế độ quy định tại văn bản hướng dẫn của Bộ, ngành Trung ương và Nghị quyết Đại hội cổ đông, Điều lệ và Quy chế của Công ty.

Việc thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước, phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp đã được triển khai nghiêm túc, tuân thủ đầy đủ các nghĩa vụ NSNN theo quy định. Năm 2016, các doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp của nhà nước phát sinh phải nộp NSNN 62.967 tỷ đồng, tăng 24% so với năm 2015 nếu xét trong cùng số lượng doanh nghiệp hiện có năm 2015.

Lương chưa theo kịp cơ chế thị trường

Tuy nhiên, Đoàn Giám sát cũng chỉ ra những tồn tại như: Hiệu quả hoạt động của DNNN còn chưa tương xứng với nguồn lực đang nắm giữ, tổng tài sản và vốn tăng; Hiệu suất sinh lời trên vốn kinh doanh của các DNNN đạt thấp hơn nhiều so với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; Tỷ suất lợi nhuận của toàn khối DNNN (100% vốn nhà nước) giảm trong giai đoạn 2012-2016;

Quy mô vốn chủ sở hữu tại một số doanh nghiệp còn nhỏ, tốc độ tăng trưởng còn chậm; Hiệu quả đầu tư của khối DNNN đạt thấp so với doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp; Việc mở rộng hoạt động sản xuất, chế biến một số mặt hàng mới của doanh nghiệp còn khó khăn, thiếu chủ động trong đổi mới SXKD;

Tình trạng lãng phí, thất thoát nguồn lực đất đai, tài sản... diễn ra phức tạp; tình trạng đấu thầu hình thức chưa được ngăn chặn hiệu quả; công tác quản lý tài sản công thiếu chặt chẽ, nặng tính bao cấp nên việc hạch toán và theo dõi tài sản không kịp thời và đầy đủ.

Cùng với đó, Đoàn Giám sát cũng cho biết, mức lương của người lao động tại các DNNN chưa theo kịp cơ chế thị trường, chưa tạo được động lực thúc đẩy người lao động làm việc, tạo ra sự chênh lệch quá lớn với khối doanh nghiệp ngoài nhà nước và khó thu hút được nguồn lao động chất lượng cao, biên chế, mức lương của các tập đoàn, tổng công ty phải có sự chấp thuận của Bộ quản lý.

Ngoài ra, việc cơ cấu lại một số doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, thu hồi vốn của Nhà nước từ các dự án đầu tư không hiệu quả còn chậm, hậu quả nghiêm trọng…

Việc thoái vốn nhà nước tại một số DNNN nắm giữ trên 50% vốn điều lệ theo quy định chưa thực hiện được theo phương án được duyệt….

Qua kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp và cổ phần hóa DNNN giai đoạn 2011 - 2016, Đoàn giám sát kiến nghị Chính phủ tiếp tục chấn chỉnh hoạt động của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước theo nghị quyết của Đảng và Quốc hội. Tăng cường quản lý các doanh nghiệp quốc phòng, an ninh, các doanh nghiệp trực thuộc các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội. Kiên quyết xử lý các DNNN, các dự án đầu tư chậm tiến độ, hoạt động thua lỗ, kém hiệu quả theo cơ chế thị trường, trong đó tập trung xử lý các tồn tại, yếu kém của 12 dự án, doanh nghiệp chậm tiến độ, kém hiệu quả thuộc ngành công thương theo lộ trình đã đề ra, đồng thời tiếp tục rà soát đối với các dự án, doanh nghiệp khác. Kiên quyết thoái hết vốn đầu tư ngoài ngành tại các DNNN.

Đoàn Giám sát cũng đề nghị Chính phủ xem xét cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn trong xử lý các vấn đề về tài chính, lao động, chính sách khoa học công nghệ... nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của một số doanh nghiệp đã cơ cấu lại nhưng tình hình SXKD còn chưa khả quan.

Đồng thời làm rõ trách nhiệm và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật những vi phạm của các tổ chức, cá nhân liên quan để xảy ra tình trạng DNNN, dự án đầu tư thua lỗ, thất thoát, lãng phí lớn.

Đặc biệt, Đoàn Giám sát kiến nghị Chính phủ không sử dụng ngân sách nhà nước để xử lý thua lỗ của doanh nghiệp….

Xuân Hưng

Loading...
Nội dung:




Giá vàng 9999 tr.đ/lượng

Doji TienPhongBank

Tỷ giá ĐVT:đồng

Loại Mua Bán
BIDV
OCB Kỳ hạn (tháng)